Nếu như trước đây thoát vị đĩa đệm thường chỉ gặp ở những người ở độ tuổi trung niên thì nay bệnh đang có xu hướng ngày một trẻ hóa, nhất là ở đối tượng nhân viên văn phòng. vậy nguyên nhân của thoát vị đĩa đệm là gì? đối tượng nào đang có nguy cơ cao? triệu chứng của bệnh và các phương pháp điều trị hiện nay ra sao? làm thế nào để phòng tránh?

Nếu bạn đang tìm hiểu dịch vụ tại địa phương, xem thêm quy trình đánh giá và trị liệu thoát vị đĩa đệm tại Hà Nội, bao gồm tiêu chí an toàn, chi phí và dấu hiệu cần chuyển khám.

Cảnh báo: cần đến cơ sở cấp cứu nếu có bí tiểu hoặc mất kiểm soát đại tiểu tiện, tê quanh hậu môn/sinh dục, mất cảm giác hoặc yếu tăng nhanh ở chân.

Tổng quan về thoát vị đĩa đệm

Đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có hình dạng giống như một chiếc bánh donut, được tạo thành từ collagen, nước và proteoglycan. Phần trung tâm đĩa đệm là nhân nhày có tính đàn hồi cao, phần ngoại vi là bao xơ được cấu tạo gồm nhiều vòng sợi sụn đan đồng tâm theo chiều ngang và chếch theo chiều đứng.

Nhờ có tính đàn hồi, đĩa đệm làm nhiệm vụ như một chiếc giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi các chấn thương như ngã ngồi, khiêng mang vác đồ vật nặng, các động tác vặn người,… Ở những người trên 30 tuổi, quá trình sinh tổng hợp collagen giảm, những chấn thương nhỏ gặp phải khi sinh hoạt, làm việc trong nhiều năm tích tụ dần trở thành một chấn thương lớn. Lúc này đĩa đệm thường giảm đi tính mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, các vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách.

Thoát vị đĩa đệm là một thuật ngữ thường được sử dụng khi xét nghiệm hình ảnh (MRI) cho thấy nhân nhày đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí sinh lý thông thường, chèn ép vào rễ thần kinh hoặc tủy sống gây ra các biểu hiện đau nhức, tê bì, yếu cơ…

Các giai đoạn của thoát vị đĩa đệm

Trên lý thuyết thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra ở bất kỳ đốt sống nào trong 24 đốt sống của con người. Tuy nhiên, nguy cơ mắc của các đốt sống là khác nhau, thường gặp nhất là thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng L4 L5 và cột sống cổ C6-C7. Tùy thuộc mức độ biểu hiện bệnh trên lâm sàng và hình ảnh MRI có thể phân thoát vị đĩa đệm ra làm 4 giai đoạn như sau:

phình đĩa đệm và lồi đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm thực sự và thoát vị đĩa đệm có mảnh rời
  • Giai đoạn 1: Đĩa đệm bè rộng ra xung quanh làm lõm bờ trước ống sống gây cản trở lưu thông dịch não tủy, nhân nhày có xu hướng biến dạng, nguyên nhân là do yếu bao xơ và dây chằng dọc sau. Giai đoạn này thường khó phát hiện do những cơn đau không rõ ràng.
  • Giai đoạn 2: Bao xơ rách một phần, nhân nhày chui ra ngoài qua chỗ bị suy yếu tạo thành ổ lồi khu trú, giai đoạn này bắt đầu gây ra sự chèn ép dây thần kinh nên bệnh nhân có thể gặp phải những cơn đau dữ dội.
  • Giai đoạn 3: Bao xơ đã bị rách hoàn toàn, khối thoát vị đã chui qua vòng xơ nhưng vẫn còn dính liền với phần nhân nhày nằm trước dây chằng dọc sau. Khối thoát vị chèn ép vào rễ thần kinh gây ra những cơn đau dữ dội, người mệt mỏi, rối loạn cảm giác, rối loạn dây thần kinh thực vật, vận động, đi lại khó khăn.
  • Giai đoạn 4: Một phần khối thoát vị tách ra khỏi phần đĩa đệm gốc tạo thành mảnh rời, Mảnh rời thường nằm ngoài màng cứng nhưng đôi khi xuyên qua màng cứng có thể gây chèn ép cấu trúc thần kinh và cần được đánh giá chuyên khoa dựa trên triệu chứng.

Phân loại thoát vị đĩa đệm

  • Thoát vị lên trên, xuống dưới vào thân đốt sống (kiểu Schmorl): hay còn gọi là thoát vị nội xốp
  • Thoát vị thể trung tâm: khối thoát vị chèn ép vào tủy sống
  • Thoát vị thể cạnh trung tâm: khối thoát vị chèn ép vào cả rễ thần kinh và tủy sống
  • Thoát vị cạnh bên: chèn ép vào rễ thần kinh
  • Thoát vị ra trước: rất hiếm gặp, thường không có triệu chứng

Nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc thoát vị đĩa đệm

  • Người cao tuổi
  • Người thường xuyên phải bê vác đồ nặng
  • Người có đặc thù công việc phải đứng lâu, ngồi nhiều như: nhân viên văn phòng, tài xế, nhân viên thu ngân, lễ tân, nhân viên bán hàng, giáo viên, giảng viên…
  • Người thường xuyên phải hoạt động mạnh, thay đổi tư thế liên tục như: vận động viên, diễn viên múa…
  • Người có thói quen sinh hoạt kém khoa học, thừa cân, béo phì…đều có nguy cơ cao mắc thoát vị đĩa đệm
  • Người mắc các bệnh lý cột sống bẩm sinh hoặc mắc phải như: gù vẹo, gai đôi, bất thường giải phẫu đốt sống

Nguyên nhân thoát vị đĩa đệm

Nguyên nhân phổ biến nhất của thoát vị đĩa đệm là một quá trình thoái hóa, tuổi càng cao thì nhân nhày càng bị mất nước và yếu đi, sự biến đổi cấu trúc sinh lý của cột sống cũng làm tăng áp lực lên đốt sống và đĩa đệm. Quá trình này sẽ dẫn đến thoát vị đĩa đệm tiến triển và có thể gây ra các triệu chứng. Nguyên nhân phổ biến thứ hai của thoát vị đĩa đệm là chấn thương. Các nguyên nhân khác bao gồm rối loạn mô liên kết và rối loạn bẩm sinh. Thoát vị đĩa đệm thường gặp nhất ở cột sống thắt lưng, sau đó là cột sống cổ. Tỷ lệ thoát vị đĩa đệm ở cột sống thắt lưng và cột sống cổ cao hơn do các lực cơ sinh học ở phần linh hoạt của cột sống

Một số yếu tố nguy cơ dẫn tới thoát vị

  • Do thói quen xấu: Sinh hoạt, lao động, làm việc gắng sức hoặc sai tư thế tạo ra các vi trấn thương làm sai lệch cấu trúc cột sống và tổn thương đĩa đệm. Ví dụ: đi giày cao gót, để ví sau túi quần, ngồi vắt chân chữ ngũ, nâng đồ vật không đúng cách, thường xuyên ngồi làm việc vẹo người sang một bên, vừa ngồi vừa gác một chân lên ghế, để màn hình máy tính quá thấp, cúi cổ quá lâu khi dùng điện thoại…
  • Tuổi và giới tính: Tuổi càng cao thì quá trình lão hóa diễn ra càng nhanh, sự hấp thu các chất dinh dưỡng giảm, quá trình tổng hợp collagen giảm làm vòng sụn bên ngoài xơ hóa, lượng nước và tính đàn hồi bên trong nhân nhầy giảm đi và rất dễ bị tổn thương. Ngoài ra nam giới có nguy cơ mắc thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng gấp 2 lần so với nữ
  • Chấn thương: Lực tác động mạnh tới vùng lưng trong các trường hợp như tai nạn lao động, tai nạn giao thông, chấn thương thể thao đều làm thay đổi cấu trúc, vị trí đốt sống và đĩa đệm, tăng nguy cơ thoát vị.
  • Các bệnh lý bẩm sinh hoặc mắc phải: Dị dạng đốt sống, gai đôi, thoái hóa cột sống, gù vẹo…
  • Thừa cân có thể ảnh hưởng tải vận động và sức khỏe chung. Không dùng tỷ lệ nguy cơ tái phát “gấp 12 lần” khi chưa có nguồn và bối cảnh phù hợp; quản lý cân nặng cần cá thể hóa.
  • Hút thuốc: Các nghiên cứu cho thấy nicotin có trong khói thuốc làm giảm lưu lượng máu tới đĩa đệm, tăng tốc độ thoái hóa và chậm lành các tổn thương.
  • Chế độ ăn: Ăn uống không đủ chất dinh dưỡng, thường xuyên sử dụng rượu bia, chất kích thích cũng làm tăng nguy cơ hình thành thoát vị đĩa đệm.
  • Yếu tố di truyền: Tiền sử trong gia đình có người từng mắc các bệnh lý về cột sống, đĩa đệm thì tỷ lệ mắc thoát vị cũng cao hơn.

Những sai lệch cấu trúc và các yếu tố bất lợi kể trên sẽ làm thương tổn tới cột sống, đĩa đệm trong nhiều năm, làm các đốt sống và đĩa đệm bị thoái hóa. Đến một thời điểm nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức…), nhất là động tác cúi xuống nâng vật nặng, các vòng sụn sẽ bị rách, nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát ra ngoài chui vào ống sống hình thành khối thoát vị.

thoát vị đĩa đệm do bê đồ sai tư thế

Triệu chứng của thoát vị đĩa đệm

Cũng giống như một số bệnh lý cơ xương khớp khác, giai đoạn đầu của thoát vị đĩa đệm thường không có triệu chứng điển hình, nhiều người khi chụp MRI trên phim có hình ảnh phình lồi đĩa đệm nhưng họ hoàn toàn không thấy khó chịu. Thông thường người bệnh chỉ biết được tình trạng của mình khi đi khám tổng quát hoặc khi bệnh đã chuyển nặng, có biểu hiện chèn ép rễ thần kinh.

nhận tư vấn

Tùy theo vị trí thoát vị và giai đoạn của bệnh mà có các triệu chứng cơ năng sau:

Triệu chứng của thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

  • Đau nhức mỏi cổ vai gáy lan lên vùng chẩm hoặc xuống bả vai, cánh tay, đau tăng khi nghiêng, xoay, ngửa cổ hoặc khi lái xe
  • Hạn chế vận động cột sống cổ, co cứng cơ cạnh cột sống.
  • Cảm giác tê, buốt, như có dòng điện lăn tăn chạy dọc xuống vai, cánh tay, các đầu ngón tay
  • Có thể kèm theo các biểu hiện đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ, hay quên khi có vấn để ở C1C2
  • Khi khối thoát vị chèn ép vào tủy sống có thể gây yếu một bên tay hoặc nửa người, nếu để lâu có thể dẫn tới teo cơ, mất trương lực cơ
  • Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ C3,C4 có thể gây cảm giác đau tức vùng ngực, ho, nấc, khó thở.

Triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

  • Đau cột sống thắt lưng, cơn đau có thể âm ỉ kéo dài vài ngày, vài tuần hoặc có thể xuất hiện đột ngột, dữ dội sau một động tác sai tư thế hoặc mang vác đồ quá sức, về sau khi có động tác gắng sức tương tự thì cơn đau lại tái phát
  • Đau lan có thể kèm theo nhói buốt, tê cứng chạy dọc từ hông, mông xuống đùi, cẳng chân và cả bàn chân tùy theo vị trí thoát vị
  • Đau tăng khi đứng, đi lại, nhói đau khi ngồi xe đi qua chỗ xóc, ho, hắt hơi, rặn khi đại tiện đau tăng, người bệnh có xu hướng đứng vẹo một bên để giảm đau
  • Hạn chế vận động cột sống thắt lưng, cảm giác cơ cạnh cột sống lưng co cứng.

Phương pháp chẩn đoán thoát vị đĩa đệm

Trong quá trình thăm khám bác sĩ có thể hỏi về tiền sử bệnh, các triệu chứng cơ năng, kiểm tra các điểm đau, mức độ co cứng các cơ, cho bệnh nhân làm các xét nghiệm cận lâm sàng hay yêu cầu bệnh nhân làm các nghiệm pháp test để xác định có sự chèn ép thần kinh hay không? Tùy thuộc nguyên nhân, mức độ và giai đoạn bệnh, thoát vị đĩa đệm có thể có ít nhiều những triệu chứng và hội chứng sau đây.

Chẩn đoán lâm sàng

Hội chứng cột sống

  • Đau cột sống: cơn đau có thể đến đột ngột hoặc từ từ, chủ yếu tập trung ở một số đốt sống nhất định, đau có tính chất cơ học.
  • Giảm tầm vận động của cột sống như cúi, ngửa, nghiêng, xoay
  • Cột sống biến dạng: có thể thay đổi đường cong sinh lý của cột sống, lệch vẹo cột sống, gù,… tùy theo tình trạng tổn thương.
  • Cơ cạnh sống co cứng, ấn có điểm đau cột sống

Hội chứng chèn ép rễ thần kinh

  • Đau lan theo hướng đi của dây thần kinh, ngoài đau có thể kèm theo cảm giác tê bì, căng buốt
  • Ấn có điểm đau cạnh cột sống, dấu hiệu chuông bấm
  • Rối loạn, giảm phản xạ gân cơ tùy theo vùng bệnh lý
  • Tùy theo vị trí chèn ép mà có các nghiệm pháp thăm khám khác nhau như:
    • Đối với cột sống cổ: nghiệm pháp Spurling, nghiệm pháp căng rễ thần kinh, nghiệm pháp trùng rễ thần kinh, nghiệm pháp kéo giãn cột sống cổ
    • Đối với cột sống thắt lưng: hệ thống điểm valleix, nghiệm pháp laségue, dấu hiệu Neri, Déjerine, Siccar, Bonnet, Wassermann…

Hội chứng chèn ép tủy (myelopathy)

Dáng đi không vững, đi lại khó khăn, yếu hoặc liệt chi, teo cơ ngọn chi, dị cảm. Tăng phản xạ gân xương.

Chẩn đoán cận lâm sàng

  • X-Quang thường quy: Giúp thấy được những thay đổi cấu trúc cột sống như lệch, vẹo, gù, giảm đường cong sinh lý cột sống, giảm chiều cao tầng đĩa đệm, tình trạng bán trật đốt sống và một số bất thường cột sống khác (trên phim x-quang không thể thấy được hình ảnh khối thoát vị)
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI): là xét nghiệm có độ chính xác cao để chẩn đoán xác định vị trí thoát vị. Trên phim có thể xác định được thoát vị ra trước, ra sau, sang hai bên hoặc thoát vị nội xốp, tương ứng với định khu trên lâm sàng
  • Chụp bao rễ cản quang: Đây là phương pháp cho thấy hình ảnh gián tiếp của thoát vị đĩa đệm bằng hình ảnh hẹp ống sống, lỗ tiếp hợp, song không phân biệt được chèn ép do các nguyên nhân khác nên thường chỉ được dùng cho trường hợp nghi ngờ nhưng không thể chụp MRI.
  • Chụp cắt lớp (CT): Có giá trị trong các trường hợp thoát vị đĩa đệm có thoái hóa cột sống, vôi hóa dây chằng dọc sau, dày dây chằng vàng.
  • Các thăm dò khác: Điện cơ đồ và đo thời trị dây thần kinh cho phép chẩn đoán vị trí của thoát vị đĩa đệm.

Các phương pháp chữa bệnh thoát vị đĩa đệm

Quá trình hình thành thoát vị thường kéo dài nhiều năm, do đó cần có thời gian để cơ thể chữa lành và hồi phục. Để thu được kết quả điều trị tích cực như mong muốn, người bệnh cần kiên trì chữa bệnh ít nhất vài tháng.

Hiện nay việc chữa thoát vị đĩa đệm có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau như điều trị nội khoa, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, nắn chỉnh cột sống, phẫu thuật, thay đổi lối sống, mỗi phương pháp này đều có những ưu nhược điểm khác nhau.

Điều trị nội khoa bằng thuốc

Đây là phương pháp chữa thoát vị đĩa đệm được đa số các bệnh viện sử dụng cho bệnh nhân ở thể nhẹ. Tùy thuộc vào mức độ đau bệnh nhân có thể được kê các loại thuốc giảm đau chống viêm NSAIDs như Meloxicam (Mobic), Pirocecam (Felden),…Kết hợp với thuốc giãn cơ như Myonal, Mydocalm

  • Ưu điểm: Giảm đau nhanh, không tốn nhiều thời gian vào việc điều trị
  • Nhược điểm: Chỉ là phương pháp điều trị giảm đau tạm thời, sẽ bị nhờn thuốc nếu điều trị kéo dài, có nhiều tác dụng phụ như viêm loét dạ dày, suy gan, thận.

Tiêm giảm đau ngoài màng cứng corticosteroids

Đây là một thủ thuật xấm lấn tối thiểu thường được sử dụng trong trường hợp nặng, thuốc được tiêm vào khoang ngoài màng cứng với mục đích giảm đau, chống viêm nhanh và mạnh.

  • Ưu điểm: Giảm đau nhanh, không tốn thời gian điều trị
  • Nhược điểm: Vẫn chỉ có tác dụng chữa trị tạm thời, tiềm ẩn nhiều nguy cơ như nhiễm trùng, tổn thương thần kinh, thủng màng cứng…

Chữa thoát vị đĩa đệm bằng thuốc đông y

Thuốc y học cổ truyền cần được đánh giá thành phần, nguồn gốc và tương tác, không mặc định phù hợp mọi người cao tuổi hoặc phục hồi đĩa đệm. Tránh sản phẩm quảng cáo chữa khỏi, không rõ thành phần hoặc có thể pha trộn thuốc khác.

  • Ưu điểm: Chi phí điều trị thấp, không tốn quá nhiều thời gian vào điều trị
  • Nhược điểm: Thuốc thường khó uống, cần điều trị một thời gian dài mới thấy rõ được hiệu quả.

Châm cứu chữa thoát vị đĩa đệm

Châm cứu là một trong những phương pháp chữa thoát vị không dùng thuốc rất hiệu quả trong việc cắt các cơn đau, cảm giác tê buốt, khó chịu. Phương pháp này cũng có tác dụng làm mạnh gân cốt, nâng cao thể trạng toàn thân.

  • Ưu điểm: Không dùng thuốc, cắt cơn đau nhanh
  • Nhược điểm: Châm kim có cảm giác đau, thời gian điều trị mỗi buổi châm cứu thường kéo dài 30’ – 1 tiếng

Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng

Bao gồm chườm nóng, chườm đá, thủy trị liệu, siêu âm, sóng ngắn, laser trị liệu, kích thích điện, kéo giãn bằng máy, các bài tập trị liệu, đeo đai. Các phương pháp này đều có tác dụng tốt trong việc điều trị

Phẫu Thuật

Hầu hết các trường hợp thoát vị đĩa đệm đều không cần phẫu thuật, các triệu chứng của thoát vị nếu điều trị đúng hướng thì sẽ cải thiện nhanh chóng. Chỉ khi điều trị nội khoa không kết quả, hay có liệt teo cơ, rối loạn cơ vòng mới cần tới phẫu thuật. Phương pháp phẫu thuật điều trị thoát vị phổ biến là cắt bỏ đĩa đệm bị thoát vị, giải phóng lỗ liên hợp, thay thế đĩa đệm nhân tạo

Nắn chỉnh cột sống chiropractic

Liệu pháp bằng tay chỉ là một lựa chọn ở người phù hợp sau thăm khám; không đẩy đốt sống hay đĩa đệm về chỗ cũ. Có dấu hiệu thần kinh tiến triển cần đánh giá chuyên khoa, không tiếp tục nắn theo liệu trình cố định.

nắn chỉnh cột sống điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, bệnh nhân thấy đỡ đau ngay sau khi nắn

Các khảo sát cho thấy có khoảng 22 triệu người mỹ được trị liệu bằng nắn chỉnh cột sống mỗi năm, >80% bệnh nhân tại Mỹ và châu Âu cảm thấy hiệu quả rõ rệt, chất lượng cuộc sống được nâng cao sau khi điều trị bằng nắn chỉnh.

Theo thông tin Ocean Healthcare cung cấp, bác sĩ Vũ Như Đạt cùng cộng sự phụ trách chuyên môn. Người bệnh nên hỏi rõ người trực tiếp khám, phạm vi hành nghề và mục tiêu điều trị; không dùng danh xưng hoặc thâm niên chưa xác minh làm bằng chứng hiệu quả.

Biến chứng khi không chữa thoát vị đĩa đệm kịp thời

Biến chứng thần kinh nặng trong một số trường hợp

  • Trong trường hợp thoát vị có chèn ép tủy cổ nếu không được điều trị kịp thời có thể gây liệt toàn thân, nếu là vùng cột sống thắt lưng có thể gây liệt 2 chi dưới.
  • Đây là biến chứng nguy hiểm nhất của thoát vị đĩa đệm, người bệnh sẽ mất hoàn toàn khả năng vận động, đi lại và chỉ có thể nằm một chỗ, toàn bộ sinh hoạt chỉ có thể phụ thuộc vào người thân.

Teo cơ, giảm trương lực cơ

Thoát vị chèn ép làm giảm tín hiệu thần kinh tới cơ chi phối, dẫn tới giảm trương lực cơ, lâu ngày dẫn tới teo cơ làm người bệnh mất khả năng lao động, sinh hoạt khó khăn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc và cuộc sống.

Rối loạn, mất cảm giác

Mỗi rễ thần kinh cảm giác đều chi phối cảm giác cho một vùng cơ thể nhất định, khi bị chèn ép bệnh nhân thường rối loạn hoặc mất cảm giác nóng lạnh, tê bì chân tay.

Rối loạn cơ tròn

Đối với trường hợp thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nặng, khối thoát vị chèn ép vào đám rối thần kinh đuôi ngựa khiến cơ vòng tiết niệu và hậu môn bị giảm trương lực gây rối loạn cơ tròn với biểu hiện là đái tiểu tiện không tự chủ, Đây là một tình trạng nguy hiểm và cần được điều trị ngay lập tức. Nếu chậm trễ người bệnh có thể bị tổn thương vĩnh viễn.

Các biện pháp phòng ngừa thoát vị đĩa đệm

  • Duy trì vận động phù hợp khả năng và hướng dẫn điều trị. Không có môn tập thích hợp cho mọi người bị thoát vị; tránh tự treo xà hoặc cố tập khi đau lan, tê hoặc yếu tăng.
  • Duy trì cân nặng ở mức hợp lý, chỉ số BMI nằm trong khoảng 18,5-22,9
  • Ngồi làm việc giữ thẳng lưng, sau khoảng 30’- 1 giờ phải đứng dậy đi lại, tập vài động tác nhẹ, để màn hình máy tính ngang tầm mắt, không cúi quá lâu khi dùng điện thoại, không để ví sau túi, không ngồi vắt chân…
  • Không mang vác, nâng vật nặng quá sức, sai tư thế
  • Thường xuyên tắm nắng: mỗi ngày tắm nắng 15 phút, thời gian tắm nắng tốt nhất thừ 9h30’ sáng tới 15h30’ chiều.
  • Chế độ ăn uống khoa học, đầy đủ dinh dưỡng, bổ sung vitamin D3+K2, vitamin C
  • Không dùng các chất kích thích, hạn chế rượu bia, thuốc lá. Thực tế cho thấy những đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy, hút cần, thường không đáp ứng với các phương pháp điều trị do thần kinh bị hủy hoại.
  • Kiểm tra sức khỏe định kỳ giúp sớm phát hiện và điều trị

Một số câu hỏi thường gặp

Thoát vị đĩa đệm có chữa khỏi được không?

Tiên lượng phụ thuộc vị trí thoát vị, mức độ kích thích hoặc chèn ép thần kinh, thời gian mắc và khả năng đáp ứng của từng người. Nhiều trường hợp cải thiện bằng chăm sóc bảo tồn theo thời gian, nhưng không nên cam kết khỏi hoàn toàn, không tái phát hoặc ấn định một mốc hồi phục giống nhau cho tất cả người bệnh. Cần theo dõi cả đau, chức năng vận động và dấu hiệu thần kinh.

Đau lưng, thoát vị đĩa đệm có quan hệ vợ chồng được không?

Không có tần suất cố định áp dụng cho mọi người. Có thể duy trì hoạt động tình dục khi triệu chứng cho phép, chọn tư thế ít gây đau và dừng lại nếu đau lan, tê hoặc yếu tăng lên. Không có cơ sở để coi thực phẩm cụ thể là biện pháp bù lại sau quan hệ hoặc điều trị thoát vị đĩa đệm.

Có nên tự chữa thoát vị đĩa đệm tại nhà không?

Tự quản lý có thể gồm duy trì hoạt động phù hợp, tránh nằm nghỉ kéo dài và thực hiện bài tập đã được hướng dẫn cho tình trạng cụ thể. Không tự dùng thuốc, kéo giãn mạnh hoặc thực hiện thao tác nắn chỉnh khi chưa được sàng lọc. Nếu đau tăng, yếu cơ, rối loạn đại tiểu tiện hoặc tê vùng yên ngựa, cần đi khám khẩn cấp.

Nguồn tham khảo y khoa

Nội dung chỉ mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán hoặc điều trị trực tiếp.

Có nên nắn chỉnh khi bị thoát vị đĩa đệm?

Không nên tự bẻ hoặc nắn cột sống. Việc nắn chỉnh cột sống khi bị thoát vị đĩa đệm chỉ có thể được cân nhắc sau sàng lọc, không có dấu hiệu thần kinh tiến triển và thường phải đi kèm chương trình vận động phù hợp.

Cần cấp cứu nếu xuất hiện tê vùng yên ngựa, bí tiểu/tiểu không tự chủ hoặc yếu hai chân tăng nhanh.

Các giai đoạn thoát vị đĩa đệm không quyết định điều trị một mình

Các từ phồng, lồi, thoát vị dạng đùn và mảnh rời chủ yếu mô tả hình thái trên hình ảnh. Mức độ đau và hướng xử trí còn phụ thuộc triệu chứng, khám thần kinh và mức độ phù hợp giữa MRI với vị trí đau; xem ý nghĩa lâm sàng của các giai đoạn thoát vị đĩa đệm. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Thoát vị đĩa đệm L4–L5 cần đối chiếu với rễ thần kinh

Tổn thương đĩa đệm giữa đốt sống L4 và L5 thường có thể kích thích rễ L5, nhưng vị trí và hướng thoát vị có thể tạo kiểu triệu chứng khác nhau. Không nên tự chẩn đoán chỉ từ một dòng MRI; xem triệu chứng và hướng xử trí thoát vị đĩa đệm L4–L5. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Thoát vị đĩa đệm L5–S1 thường cần đánh giá rễ S1

Tổn thương đĩa đệm giữa L5 và xương cùng S1 ở vị trí thường gặp có thể kích thích rễ S1, gây đau lan sau chân, tê bờ ngoài bàn chân hoặc yếu nhón chân. Kiểu triệu chứng có thể chồng lấp nên cần khám; xem triệu chứng và lưu ý khi thoát vị đĩa đệm L5–S1. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Thoát vị đĩa đệm cổ C5–C6 cần phân biệt rễ C6 và chèn ép tủy

Thoát vị tại đĩa đệm C5–C6 thường có thể kích thích rễ C6, gây đau cổ lan tay, tê phía ngón cái hoặc yếu một số động tác tay; tổn thương trung tâm còn có thể ảnh hưởng tủy. Cần đối chiếu khám thần kinh; xem dấu hiệu thường gặp của thoát vị đĩa đệm cổ C5–C6. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Thoát vị đĩa đệm có thể giảm triệu chứng nhưng không nên hiểu là tự khỏi hoàn toàn

Nhiều trường hợp đau lan do thoát vị đĩa đệm cải thiện theo thời gian và một số khối thoát vị thắt lưng có thể co nhỏ trên hình ảnh. Tuy nhiên, giảm đau, phục hồi chức năng và tiêu khối thoát vị là ba khái niệm khác nhau; xem thoát vị đĩa đệm có tự khỏi không và cách theo dõi. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Đi bộ thường phù hợp khi thoát vị đĩa đệm không có dấu hiệu đỏ

Khi không có yếu tiến triển, rối loạn cơ tròn hoặc dấu hiệu bệnh lý nghiêm trọng, đi bộ trong mức chịu được thường được ưu tiên hơn nằm bất động. Cần điều chỉnh thời lượng theo đáp ứng và dừng để đánh giá nếu triệu chứng thần kinh tăng; xem cách đi bộ an toàn khi thoát vị đĩa đệm. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Nệm thật cứng không phải lựa chọn bắt buộc khi thoát vị đĩa đệm

Không có một độ cứng phù hợp cho tất cả người thoát vị đĩa đệm. Bằng chứng ở đau lưng không đặc hiệu thường nghiêng về nệm độ cứng vừa hơn nệm rất cứng, nhưng lựa chọn cần xét tư thế ngủ, thể trạng, khả năng trở mình và đáp ứng thực tế; xem cách chọn nệm cứng hay mềm khi thoát vị đĩa đệm. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Thoát vị đĩa đệm có thể tập gym nếu điều chỉnh phù hợp

Không phải mọi người thoát vị đĩa đệm đều phải ngừng tập. Khi không có dấu hiệu thần kinh tiến triển, vận động thường được khuyến khích nhưng cần điều chỉnh tải, theo dõi đau lan hoặc tê yếu và tăng dần theo khả năng; xem nguyên tắc tập gym an toàn khi thoát vị đĩa đệm. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Nhận biết dấu hiệu chèn ép thần kinh

Thoát vị đĩa đệm chỉ gây triệu chứng thần kinh khi vị trí và phản ứng viêm ảnh hưởng đến rễ thần kinh hoặc cấu trúc trong ống sống. Đau lan theo chi, tê, thay đổi cảm giác và yếu cơ đáng chú ý hơn đau tại chỗ đơn thuần; xem các dấu hiệu thoát vị đĩa đệm chèn ép thần kinh. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Khi nào cần đánh giá phẫu thuật?

Phần lớn người bệnh không cần mổ chỉ vì MRI có hình ảnh thoát vị. Đánh giá phẫu thuật thường dựa trên triệu chứng, khám thần kinh, mức ảnh hưởng chức năng, đáp ứng với điều trị không phẫu thuật và sự tương hợp của hình ảnh; xem các tiêu chí cân nhắc phẫu thuật thoát vị đĩa đệm. Không dùng nhãn giai đoạn đơn lẻ để cam kết tiên lượng hoặc quyết định can thiệp.

Gọi điện

098.178.8730